Kiến tạo Công tác xã hội

[notification type="info"]Title: Kiến tạo Công tác xã hội là một phần trong chương 1 của cuốn sách Lý thuyết công tác xã hội hiện đại[/notification]

Nếu công tác xã hội là phức hợp và đa dạng theo các nền văn hoá khác nhau như chúng ta đã nhìn nhận, thì chúng ta cũng chỉ có thể hiểu được nó theo một bối cảnh văn hoá và xã hội của chính những người tham gia vào đó mà thôi. Các lý thuyết về công tác xã hội cũng có thể là những sản phẩm của các bối cảnh mà ở đó các lý thuyết nảy nở. Các lý thuyết đó cũng có ảnh hưởng đến chính bối cảnh đó bởi vì chúng cũng có tác động đến việc con người làm và nói gì trong công tác xã hội. Điều đó cũng có tác động đến thái độ xã hội của mọi người trong công tác xã hội và cả những giá trị và tư tưởng của họ nữa. Để hiểu được công tác xã hội là gì, có lẽ chúng ta cần xem xét cấu trúc xã hội của nó. Rein và White cũng đã xem xét vấn đề này như sau:

“tri thức mà công tác xã hội đang hướng đến không thể được thực hiện ở các trường đại học thông qua các cá nhân, những người có lẽ đi tìm mãi mãi những vấn đề thật sự về bản chất của con người, về các xã hội, các thiết chế và chính sách. Tri thức đó phải được phát triển trong các điều kiện sống đang phải đối mặt theo các giai đoạn khác nhau… điều đó là cần thiết nhằm mở rộng được quan niệm về các bối cảnh để kết hợp không chỉ những tình huống của thân chủ mà còn tính đến cả các tổ chức và các mô hình thực hành của tổ chức nữa. Điều này bao hàm cả những mạng lưới văn phòng với nhau, mạng lưới các tổ chức, các cấu trúc chuyên môn, cấu trúc bộ máy của nhà nước và những nhóm chịu áp lực chính trị cùng tiến hành làm việc với nhau trong một tổ chức (1981:37).

Tư tưởng này về cấu trúc xã hội xuất phát từ nghiên cứu của Berger và Luuckmann (1971). Họ cũng duy trì được quan điểm “cái hiện thực” chính là tri thức định hướng hành vi của chúng ta, nhưng chúng ta lại có những quan điểm khác nhau về chúng. Chúng ta hướng đến việc đạt được cách chia sẻ những quan điểm về cái hiện thực thông qua việc chia sẻ tri thức ở nhiều quá trình xã hội khác nhau tạo nên cái hiện thức đó và biến cái hiện thực đó thành đối tượng của ngành học. Hoạt động xã hội cũng trở nên quen thuộc, do đó, chúng ta cùng chia sẻ những giả định về việc các vấn đề đó là gì. Dĩ nhiên, chúng ta hành xử cũng tuân theo những định chế xã hội dựa trên những tri thức chung đó. Do vậy, chúng ta cũng thể chế hoá những định chế đó như khi có nhiều người đồng thuận về những hình thức am hiểu các khía cạnh đó của xã hội. Cách hiểu đó cũng được hợp pháp hoá qua quá trình gắn với những ý nghĩa  làm hội nhập những quan điểm khác nhau về cái hiện thực vào một hệ thống có tổ chức và hợp lý. Theo cách này thì việc hiểu về xã hội cũng chính là sản phẩm của các cách hiểu về con người. Với những con người như thế này thì tri thức về cái hiện thực đó cũng được chia sẻ . Từ khi con người lớn lên trong những cách thức hiểu biết về xã hội để chấp nhận cái hiện thực đó thì theo một nghĩa nào đó, họ cũng là sản phẩm của chính xã hội như vậy. Đó là một quá trình khép kín mà ở đó các cá nhân cùng nhau góp sức thông qua việc thể chế hoá, hợp lý hoá việc sáng tạo ra những ý nghĩa xã hội trong chính cấu trúc của cái hiện thực xã hội. Ngược lại, xã hội thông qua sự tham gia của cá nhân trong chính cấu trúc đó cũng tạo được những định chế để con người ứng xử với nhau. Chúng ta có thể nhìn thấy vòng xoáy ốc của sự chuyển đổi những tác động, ảnh hưởng này, nó tạo ra và cũng tái tạo ra những quy định mà con người sống trong đó.

Nhìn chung, việc chấp nhận vấn đề này luôn hiện ra trong xã hội, chúng ta cũng chấp nhận việc vấn đề này luôn diễn ra trong công tác xã hội, đó là một trong những vấn đề phức hợp của cấu trúc xã hội và sự tham gia của các cá nhân có ảnh hưởng lẫn nhau. Trong tác phẩm này, trọng tâm chính của chúng ta chính là dựa trên một khía cạnh của vòng xoắn ốc những ảnh hưởng này trong công tác xã hội: lý thuyết định hướng các hoạt động thực hành của cán sự công tác xã hội. Vấn đề này cũng làm tương tác với các khía cạnh khác của vòng xoắn ốc ảnh hưởng của công tác xã hội và tương tự cũng có những tương tác với vòng xoắn ốc rộng hơn về những ảnh hưởng xã hội.

ở phần đầu của chương này, tôi đã cho rằng mặc dù có những khác biệt về văn hoá và quốc gia, công tác xã hội cũng thường được kiến tạo từ ba thành tố sau: cán sự xã hội, thân chủ và bối cảnh xã hội. Do đó, những đánh giá chung nhất về công tác xã hội và “lý thuyết” của nó cũng phải phản ảnh được cách hiểu về cách kiến tạo đó thực hiện như thế nào. ở ba phần tiểu mục sau trong chương này cũng tìm cách xem xét từng thành tố trên được tạo dựng thông qua các mô hình hành vi, những hình thức kỳ vọng và các chuẩn mực ra sao. Tranh luận này cũng còn được tiếp tục xem xét sau. Chúng ta tạo dựng lý thuyết công tác xã hội trong công tác xã hội bên ngoài những tương tác với việc thực hành công tác xã hội, nó cũng thực hiện những tương tác cùng với những mối quan hệ xã hội rộng hơn. Ba phức hệ các vấn đề tạo dựng công tác xã hội xã hội là: Những vấn đề tạo dựng và kiểm soát công tác xã hội như là một nghề nghiệp; những vấn đề tạo nên mối quan hệ thân chủ giữa những ai  hướng đến hoặc được đưa đến những trợ giúp xã hội và những ai tạo được các bối cảnh xã hội để qua đó công tác xã hội thực hiện. Công tác xã hội là một loại hoạt động đặc biệt, ở đó mọi người tương tác với nhau theo các vai trò đặc biệt như là “cán sự xã hội” và “thân chủ”. Những vai trò này cũng phần nào xác định được bản chất của công tác xã hội. Hiểu công tác xã hội cũng kéo theo được việc đánh giá những nhân tố thiết lập được những vị trí xã hội về những chủ thể này trong một phức hợp những quan hệ xã hội. Shulman (1991) đã nghiên cứu chi tiết quá trình này, xem xét các bối cảnh có thể tạo nên cho cả thân chủ và cán sự xã hội. Những tương tác này đã thực hiện trong một khoảng thời gian và trong một bối cảnh đủ sức mạnh. Có những kết quả của một quá trình tạo nên những tương tác hiệu quả để có được những kết quả mong đợi. Những kết quả này trong nhiều trường hợp cũng tạo được những kết quả của các dịch vụ xã hội qua đó để thực hành công tác xã hội. 

Tạo dựng cán sự xã hội

Trong việc đánh giá cùng với thân chủ, cán sự xã hội được tạo dựng qua những mong đợi về mặt chuyên môn, nghĩa là những đánh giá và cách hiểu về mặt tổ chức cũng cho thấy một cán sự xã hội là gì và các quá trình xã hội xác định bất cứ ai đó với tư cách như là một cán sự xã hội.Lịch sử khác nhau về công tác xã hội và những mối quan hệ của công tác xã hội với những nhóm chuyên môn, nghề nghiệp khác và các thiết chế xã hội cũng xác định được bản chất của công tác xã hội như là một hoạt động nghề nghiệp. Bản chất đó cũng luôn biến đổi, phát triển và dĩ nhiên cũng suy giảm theo những biến đổi xã hội. Do đó, tri thức và các ý tưởng mà các cán sự xã hội sử dụng cũng thường nhằm tác động lại những biến đổi xã hội này.

Để xác định một danh mục đầy đủ các nhân tố thường xuyên có nhiều ảnh hưởng đến phát triển ngành công tác xã hội là rất khó, nhưng chúng ta có thể chỉ ra được một số đặc điểm riêng của nó. Có nhiều các yếu tố xã hội  mà có thể không thực hiện được trong quá trình phát triển các hình thức học thuật và thực hành nghề nghiệp cũng ảnh hưởng nhiều đến thực hành và lý thuyết công tác xã hội. Những nhu cầu xã hội biến đối, sự ảnh hưởng và những nhu cầu của những về nghề nghiệp có liên quan, những biến đổi về mặt chính trị và pháp lý cũng là những ví dụ về vấn đề này.

Những nhận thức về chính trị và nhận thức của công chúng về những nhu cầu cá nhân và xã hội cũng cần có những yếu tố xã hội và các cách thức mà các dịch vụ xã hội được tổ chức nhằm đáp ứng những nhu cầu đó. Do đó, những tranh luận và những phương tiện về chính trị bao hàm công tác xã hội và những hoạt động của công tác xã hội cũng có nhiều ảnh hưởng đến môi trường nhận thức tạo nên những nhiệm vụ và lợi ích của công tác xã hội. Vì đây chính là những nhận thức của xã hội có ảnh hưởng đến các dịch vụ và vì các cán sự xã hội chính họ lại là một bộ phận của xã hội và cũng bị ảnh hưởng từ chính những phương tiện và những biến đổi chính trị đó.

Tổ chức các dịch vụ và các cơ sở hoạt động, và pháp chế, khả năng kinh tế và các kỹ năng quản lý cũng làm nền tảng để tổ chức đó có tác động đến việc công tác xã hội có thể thực hiện công việc ra sao. Nếu công tác xã hội là một phần hoạt động của các cơ sở hoạt động độc lập, thì có lẽ cũng có sự tự do để phát triển các kỹ năng công tác xã hội một cách độc lập. Điều này cũng cho thấy, công tác xã hội được thực hiện ở nơi các tổ chức được các công việc khác nổi bật hơn (như hoạt động của y tế, bệnh viện). Mặc dù vậy, vị thế và sự ảnh hưởng của hoạt động chuyên môn nổi bật cũng có thể đem lại nhiều lợi ích cũng như những bất lợi . Tổ chức công nghiệp cũng có thể là rất quan trọng. ở đâu công đoàn kiểm soát được các mức độ thoả hiệp khác nhau về điều kiện làm việc (như ở nhiều các quốc gia Châu Âu), các tổ chức này cũng có nhiều tác động đến công việc. Điều này khác với việc ở đâu người chủ lao động  hoặc các thành viên của nhóm nghề nghiệp đó cũng tự xác định nhiệm vụ và phương pháp làm việc.

Nhiều nhóm hoạt động xã hội và các tổ chức cũng có khả năng xung đột với nhau. Sự phát triển về chuyên môn của các lý thuyết công tác xã hội và các kỹ năng có lẽ cũng tạo nên sự xung đột với những mong ước của các nhóm chuyên môn khác. Dĩ nhiên cũng có những mối xung đột với những quan niẹm khác nhau của người lao động về nhiệm vụ công tác xã hội (ví dụ, những lời phàn nàn từ người lao động ở một số quốc gia Âu Châu mà các tiếp cận lý thuyết của các khoá học đào tạo cho các cán sự xã hội không có khả năng ứng dụng về mặt thực hành) hoặc với những mục đích chính trị cho dịch vụ. Những nhóm này hoặc những nhóm khác cũng có lẽ cũng đấu tranh vì sự kiểm soát lý thuyết và thực hành công tác xã hội. Từng nhóm này cũng sử dụng những cách ảnh hưởng đối với nhận thức chung của xã hội, với cấu trúc tổ chức hoặc những hệ thống chính trị và những biến đổi pháp chế.

Từ quan điểm này, công tác xã hội đã trở thành một bộ phận của mạng lưới các công việc có liên quan. Chúng ta cần xem xét công tác xã hội được thiết lập và kiểm soát ra sao và nó có mối liên hệ với các mạng lưới khác xung quanh nó ra sao. Một phần từ sự am hiểu này cũng đòi hỏi chúng ta xem xét các lý thuyết của công tác xã hội phát triển và có ảnh hưởng đến công tác xã hội ra sao và chúng có mối liên hệ đến mạng lưới những lý thuyết có liên quan đến công tác xã hội ra sao với các mô hình nghề nghiệp phù hợp. Xem Payne (1996a) để biết những tranh luận chi tiết hơn về mạng lưới nghề nghiệp. Những lý thuyết như vậy tự nó cũng có những ảnh hưởng về mặt xã hội, chúng có thể giúp việc xác định vị trí của công tác xã hội trong mạng lưới các dịch vụ xã hội, hoạt động nghề nghiệp và chuyên môn khác. Tôi cũng muốn đánh giá những nhân tố xã hội khác có thể giúp các cán sự xã hội xây dựng được những lý thuyết khác của công tác xã hội. Điều này được thực hiện khi các cá nhân trong chính các mô hình hoạt động nghề nghiệp đó xây dựng được lý thuyết về công tác xã hội. Những mục đích được xác định về mặt xã hội cũng như những nguồn gốc về hoạt động chuyên môn đó cũng được tạo ra theo hướng một lý thuyết nào đó. Nhìn chung, lý thuyết mà chúng ta xây dựng lại có nhiều tác động trở lại với hoạt động nghề nghiệp và từ đó những ảnh hưởng về mặt xã hội cũng hình thành được bối cảnh cho thực hành công tác xã hội.

 Tạo dựng nên mô hình thân chủ

Nhiều nghiên cứu đã bỏ qua những ảnh hưởng của thân chủ đến công tác xã hội. Họ đơn thuần là khách thể của các hoạt động mà qua đó lý thuyết được xác định. Tôi cho rằng, trong thực tế, các cá nhân đó một phần tạo dựng được mô hình hoạt động thông qua một tiến trình mà chính họ trở thành những con người đặc biệt được gọi là “các thân chủ”. Quá trình tạo nên thân chủ tự nó đã mang ý nghĩa xã hội vì nó phụ thuộc nhiều đến những cách nhận thức chung nhất về bản chất của công tác xã hội. Chính những cá nhân này đã đem những vấn đề xã hội trở thành nội dung hoạt động chính của công tác xã hội, thân chủ đã làm biến đổi bản chất công tác xã hội. Theo nghĩa này, công tác xã hội lại là quá trình phản thân, qua đó thân chủ đã làm biến đổi vai trò của các cán sự xã hội và cả bản chất của công tác xã hội và dĩ nhiên cũng làm biến đổi lý thuyết của công tác xã hội. Mục tiêu của việc bàn luận này chính là nhằm làm rõ quan niệm xác định công tác xã hội là một quá trình tương tác để qua đó những cơ sở và những cán sự không dao động làm biến đổi những vấn đề của thân chủ. Thực tế, tôi cho rằng chính thân chủ đã làm biến đổi các hoạt động của cán sự xã hội và các tổ chức hoạt động xã hội.

Mối quan hệ của vấn đề của thân chủ không phải là không biến đổi hay là một vấn đề tuyệt đối. Nhìn chung, mọi người đều được xác định là thân chủ về mặt xã hội nếu họ tương tác với những cán sự xã hội. Mặc dù vậy, vấn đề này không phải là sự hiện diện chính xác về vị trí của chính các cá nhân, cũng như chính các cán sự xã hội hoặc cả những ai tham gia vào quá trình đó. Ví dụ, những cán sự xã hội hoạt động như là việc biện hộ cho các thân chủ lại mang tính là những người đồng sự hơn là những người trợ giúp. Hoạt động chăm sóc cũng có những mối quan hệ hai chiều với các cán sự xã hội, nó cần được xem như là những cộng sự và cần sự trợ giúp. Cha mẹ của trẻ khuyết tật cũng trở thành những cộng sự của những cán sự xã hội trong quá trình giúp đỡ trẻ, học trở thành mục đích của hoạt động trợ giúp của cán sự xã hội, hoặc một phần hoạt động của gia đình trẻ đó cũng được trợ giúp như là một tổng thể.

Mối quan hệ thân chủ cũng đã trở thành vấn đề cơ bản của nhận thức, do đó nếu những cá nhân khác nhìn nhận một cá nhân là thân chủ thì họ cần xem họ đúng theo nhận thức đó. Quan niệm riêng của từng cá nhân về vị thế của họ cũng cũng nhiều ảnh hưởng khi họ được nhìn nhận là những thân chủ nhưng hoàn toàn không phải là đã xác định. Thứ bậc chính thức cũng mang tính phù hợp do đó những hình thức phân loại chính thức như về vấn đề thân chủ cũng nổi bật hoặc củng cố nhận thức về quan hệ thân chủ. Nhận thức đó cũng có thể được chính những cán sự xã hội, thân chủ, những nhà quản lý các tổ chức của công tác xã hội nhìn nhận, cũng như qua quan điểm của những cá nhân khác hay chính gia đình thân chủ hoặc những cá nhân khác trong môi trường thân chủ sinh sống. Một khi chúng ta gán quan hệ thân chủ với một ai đó, nó sẽ luôn xác định được vấn đề đó nếu hoạt động công tác xã hội gián đoạn hoặc phải dừng hoạt động.

Quan hệ thân chủ có lẽ cũng được gắn với những kiểu cá nhân xác định, như về giai cấp xã hội cụ thể hoặc với những ai sống trong tình trạng nhà ở nào đó. Các tổ chức và những nhà quan sát cũng cần xác định những hình thức cá nhân nào là thân chủ so với cá nhân này, cá nhân khác.  Những dấu hiệu này cũng hiện ra cùng với thân chủ bởi vì những thân chủ khác có lẽ cũng không tán đồng với những ai cần sự giúp đỡ trong việc quản lý cuộc sống hàng ngày. Nếu họ được đánh giá vì sự tồn tại độc lập riêng, sự bất đồng sẽ ngày càng mạn mẽ hơn.

Tất cả những yếu tố này có lẽ cũng tương tác hoặc xung đột lẫn nhau. Ví dụ, một tổ chức xã hội và những cán sự xã hội trong tổ chức đó xem Albert như là một thân chủ. Với những người bên ngoài tổ chức đó, điều này có lẽ là cũng đúng, nhưng chính anh ta lại có thể tự nhìn nhận mình như một ngươi bạn của nhân viên xã hội. Nếu đúng như vậy, thì nhân viên xã hội đã làm gì cùng với Albert? Nếu chính các thân chủ nhìn nhận vấn đề này là như vậy rồi thì khó có thể trở thành những vấn đề khác được nữa. Ví dụ này cho thấy những quan niệm khác nhau của các cá nhân về mối quan hệ thân chủ cũng có tác động nhiều đến cách chúng ta hiểu như thế nào về bản chất của công tác xã hội.

Khi những quan niệm khác nhau của mọi người về quan hệ thân chủ là khác nhau, chúng ta cũng phải nhìn nhận những quan niệm này xuất phát từ đâu. Có thể thấy, những thiết chế xã hội và lịch sử của nó khi chúng ta nhìn nhận việc những nguồn gốc sáng tạo về quan niệm cán sự xã hội lại có nhiều ảnh hưởng trong việc xác định mối quan hệ thân chủ. Điều này dẫn chúng ta đến xác định quan hệ thân chủ là một quá trình.

Khi đó quan hệ thân chủ khó có thể được hiểu là một trạng thái, hiểu được vấn đề này là một quá trình là phù hợp hơn. Con người luôn hành động để vươn ra khỏi trạng thái là thân chủ của công tác xã hội (Payne, 1993). Quá trình này xảy ra  khi các thân chủ tiếp xúc, tương tác với các tổ chức công tác xã hội có cung cấp cho họ các dịch vụ của các cán sự xã hội. Qua đó, như việc chúng ta đã đánh giá ở các phần trước, bản chất của công tác xã hội và các tổ chức của công tác xã hội cũng được xác định về mặt xã hội, đó là một quá trình duy trì mối quan hệ thân chủ. Các thái độ đối với một số điều kiện của con người cụ thể như là vấn đề nghiện rượu sẽ xác định khi nào là phù hợp với nội dung của công tác xã hội và cả với thân chủ nữa. Ví dụ, những người nghiện rượu đó được xem là đối tượng dễ vào tù hoặc cần những can thiệp y học hoặc cần sự trợ giúp của các thầy tu.

Con đường hướng đến mối quan hệ thân chủ chỉ bắt đầu khi ai đó nhận thức được một số vấn đề trong cuộc sống của mình cần có những giải pháp; thường vấn đề này xuất hiện từ việc xem xét những kết quả này như là một vấn đề gì đó. Nhận thức cùng với nhiều áp lực xã hội khác nhau cũng tạo nên sự thôi thúc hướng đến nhận được những hình thức giúp đỡ. ở một số khía cạnh của nhận thức về sự hiện diện của nhiều tổ chức gia tăng và định hướng thân chủ nhận tham gia các tổ chức cứu trợ, khi đó những tương tác với các cán sự xã hội cũng bắt đầu.

Với vấn đề này, các quyết định cũng không được hướng đến mọi ảnh hưởng về mặt chuyên môn. Quan niệm về vấn đề, áp lực xã hội, con đường hướng đến tổ chức xã hội và những hình thức lựa chọn cũng có quan hệ chặt chẽ với con đường đó hướng đến sự lựa chọn tổ chức xã hội này, tất cả những vấn đề này cũng có thể xuất phát từ những nhận thức xã hội chung nhất về một vấn đề nào đó và các tổ chức xã hội nào đó. Wikler (1986) nghiên cứu về các con đường trợ giúp qua các thân chủ Do thái ở New York, cũng khẳng định được việc hướng đến các hoạt động không mang tính chuyên môn lại là con đường đi quan trọng nhất.

Sau đó cần bắt đầu quá trình thu nhận dịch vụ. Mục đích đó là cần khám phá các tình huống của thân chủ và thiết lập một quan niệm về chúng là phù hợp đối với tổ chức xã hội, bao gồm cả cách đánh giá về động cơ của thân chủ. Specht và Specht (1986a) nhìn nhận vấn đề này ở chỗ mà cách đánh giá bắt đầu khi bắt đầu một quá trình đối với thân chủ mặc dù tôi nghĩ họ đã hỗ trợ vấn đề này quá muộn ở một giai đoạn của quá trình. Chắc chắn, ở giai đoạn này thân chủ không phải là vấn đề cuối cùng. Chúng ta thường mô tả con người như là “người ứng cử” hoặc là những thân chủ tiềm năng (Pincus và Minahan, 1974). Họ cũng được điều tra nhằm nhìn nhận được khi nào họ có thể được xác định là khác hàng phù hợp với tổ chức xã hội đó theo các chính sách của tổ chức. Những nhân tố khác cũng có tác động đến quyết định này chính là việc đào tạo và các thiết chế xã hội  có thể hình thành được quan điểm về sự phù hợp đối của cán sự xã hội và các xu hướng chính trị, công cộng, cá nhân, và chuyên môn. Chúng ta có lẽ không xác định được một người đến thăm các tổ chức xã hội là thân chủ nếu chúng ta có đưa ra lời khuyên.

Tất cả vấn đề này đều cho thấy việc đến thăm các tổ chức xã hội  là một vấn đề về sự lựa chọn, nhưng trong thực tế nhiều thân chủ lại không tự nguyện làm. Họ bị bắt ép đến thăm các tổ chức đó theo yêu cầu của toàn án hoặc được điều tra thông qua một trong nhiều chức năng chính sách của tổ chức như việc điều tra  việc lạm dụng trẻ. Rooney (1992) cho rằng thân chủ không không tự nguyện ở chỗ mà mọi người được cảm nhận là bị áp đặt là cần duy trì hoặc tạo được sự ép buộc hoặc áp đặt những sự lựa chọn trong các mối quan hệ. Điều này cũng vì họ cảm nhận được sự mất mát về mặt cá nhân, tài chính hoặc xúc cảm nếu họ không tiếp xúc tổ chức xã hội đó. Dĩ nhiên họ cũng không tự nguyện nếu họ cảm nhận thấy bất lợi hoặc bị áp đặt bị áp đặt trong các mối quan hệ, thậm chí họ còn tiếp xúc với tổ chức đó vì họ cũng có thể đạt được một số vấn đề bên ngoài tổ chức. Nhiều khách hàng không tự nguyện đến từ các nhóm bị áp đặt theo cách này hoặc cách khác trong xã hội lại nhiều hơn các nhóm danh giá hoặc thành công. Cingolani (1984) cho rằng những cán sự xã hội tiếp tục thoả ước về những mối quan hệ dễ chấp nhận với thân chủ. Những cán sự xã hội cũng thoả hiệp giữa những thân chủ chưa sẵn sàng và những môi trường xã hội. Rooney (1992) cũng cho rằng vì các thân chủ tham gia một cách không tình nguyện mà những nhân viên xã hội vẫn chỉ cho họ những sự lựa chọn theo những vấn đề khác. Mục đích này cần phải làm giảm nội dung về sự tự do hành động của thân chủ là bị giới hạn và những hình thức áp đặt được sử dụng. Những hình thức khuyến khích và trao quyền cũng lại mang nhiều ý nghĩa trợ giúp. Đôi khi, các nhân viên xã hội hành động một cách gia trưởng mà không ngăn cản thông tin hoặc áp đặt lại những ước muốn của thân chủ là không cần thiết. Chúng ta cũng cần tránh vấn đề này.

Specht và Specht (1986b) cũng cho rằng việc gắn kết với thân chủ qua việc cung cấp dịch vụ cũng chỉ là giai đoạn cuối cùng trong việc thiết lập quan niệm về quan hệ thân chủ. Sự gắn kết đó không phải là những văn bản thành văn chính thức nhưng cũng không phải là những hình thức đồng thuận lỏng lẻo giữa thân chủ và cán sự xã hội. Sau khi có được sự hưởng thụ dịch vụ và danh vị như là thân chủ, vị thế của thân chủ cũng làm biến đổi cũng việc chúng ta vượt qua họ hướng đến những khía cạnh khác nhau của một tổ chức rộng lớn hơn theo những hình thức trợ giúp khác nhau về quyền sở hữu của họ, về cộng đồng, gia đình hoặc những hình thức biến đổi nhận thức khác của các tổ chức khi các thân chủ biết được mình nhận được các dịch vụ xã hội.

Để trở thành thân chủ cũng cần hướng đến quá trình dừng lại việc trở thành một kiểu thân chủ. Điều này cũng kéo theo việc thừa nhận những tình huống hướng đến một sự thôi thúc, lần này không phải là từ tổ chức đó. Để hiểu khi nào là thời điểm phù hợp để dừng lại việc tham gia vào một tổ chức cũng là một nhân tố quan trọng. Trong mọi biện pháp, thân chủ lại bị ảnh hưởng  qua những cách hiểu riêng về mặt xã hội, những thông tin có được từ cán sự xã hội, những áp lực pháp lý và tri thức, thái độ có từ trong chu trình xã hội của thân chủ.

 Bối cảnh của công tác xã hội

Công tác xã hội hiện hữu trong bối cảnh mang tính tổ chức của các tổ chức cán sự xã hội, nghĩa là những hình thức hiệp hội của con người được tổ chức nhằm đạt được các mục đích cụ thể. Điều này là đúng khi các hoạt động cá nhân cụ thể hoặc các nhóm tự trợ giúp lại là những tổ chức được hình thành một cách lỏng lẻo, nó hình thành đơn giản. Các tổ chức lại là một phức hệ các quan hệ xã hội, thông qua đó cấu trúc xã hội lại có nhiều ảnh hưởng đến công tác xã hội. Các tổ chức này cũng thường được kiểm soát qua ban quản lý thể hiện được các cộng đồng, qua những hình thức bầu cử chính trị, với các tổ chức của chính phủ hoặc cũng thông qua việc đưa ra một quá trình  với các tổ chức tư nhân hoặc tổ chức tự nguyện. Với tư cách là các tổ chức, các tổ chức dịch vụ xã hội đó cũng là chủ thể tạo ảnh hưởng trong khi những vấn đề kinh tế, chính trị, bộ máy nhà nước, hoặc lý luận cũng khác nhiều với những vấn đề có tác động đến cán sự xã hội và thân chủ. Tôi cũng sẽ nghiên cứu đầy đủ vấn đề này ở một công trình khác (Payne, 1996a).

Các tổ chức cũng tồn tại trong các bối cảnh chính trị và xã hội có tác động đến việc các tổ chức và cán sự xã hội hoạt động ra sao và họ giải quyết như thế nào với thân chủ. Ví dụ, cần tạo môi trường đồngg thuận và bất đồng về công tác xã hội hoặc những hình thức chi phí phúc lợi xã hội có tác động đến công tác xã hội. Các tổ chức dịch vụ đó cũng có lịch sử, bối cảnh và cấu trúc riêng, có nhiều tác động đến việc chúng ta nhận thức về chúng ra sao. Ví dụ, các cán sự xã hội ở bệnh viện tâm thần thường là nhà thương điên cũng thực hiện stigma mà những người già thường gắn với lịch sử của chính thiết chế xã hội như vậy. Dĩ nhiên, tại nơi mà họ làm việc cũng lại không phù hợp với các hoạt động thực hành hiện đại của công tác xã hội. Công bằng mà nói, các môi trường y học và nhu cầu cần làm việc với nhóm đa ngành cũng có nhiều tác động đến việc chúng tác thực hiện công tác xã hội ra sao.

(Trích từ Tài liệu dịch Lý thuyết công tác xã hội hiện đại)

Post a Comment

0 Comments