Ngôn ngữ về công tác xã hội, như chính về chuyên môn của ngành học này ngày càng phát triển và trở nên càng phức tạp. Đây là kết quả của quá trình phát triển tri thức công tác xã hội và khát vọng được truyền bá với một mức độ chính xác hơn về chuyên môn. Đó cũng là sản phẩm của các mối quan hệ gần gũi hơn với những ngành chuyên môn khác và với các khía cạnh khác nhau của xã hội, mỗi chuyên ngành đều có những biệt ngữ và thuật ngữ khoa học khác nhau.
Từ vựng năng động cũng rất mạnh mẽ nhưng cũng thể hiện được những thách thức kinh khủng. Để diễn đạt chúng một cách hiệu quả, và hiểu toàn diện về các thuật ngữ, ngôn tữ của các đồng nghiệp và các thành viên khác trong hoạt động chuyên môn, các cán sự xã hội cũng cần làm quen với hệ thống các thuật ngữ phức tạp hơn. Các thuật ngữ này vẫn được xem là dễ dàng tiếp cận với các nguồn khác nhau, qua các tổ chức khác nhau, và các dịch vụ khác nhau để có thể giúp chúng ta đáp ứng được các nhu cầu của thân chủ.
Một thách thức khác để có được sự diễn đạt rõ ràng xuất hiện từ các chuyên ngành hẹp khác và những định hướng về mặt quan niệm trong chính hoạt động chuyên môn. Ví dụ, các cán sự xã hội là những người hoạt định chính sách hoặc biện hộ xã hội thường không chia sẻ những ngôn từ xác định với đồng nghiệp ở các công việc trị liệu. Thậm chí, với một chuyên ngành hẹp thực hành công tác xã hội đơn lẻ, cũng có những mối nguy hại trong việc hiểu lầm bởi vì có hàng loạt các luận điểm lý thuyết trong việc sử dụng hiện tại. Ví dụ, các cán sự trị liệu với những định hướng về tâm động học có thể có những cách lý giải thuật ngữ khác nhau mà các đồng nghiệp sử dụng với các quan điểm hành vi luận, hệ thống tâm lý học xã hội, hiện sinh, hay nhận thức…
Dĩ nhiên những xu hướng này cũng làm tăng khả năng đối với những vấn đề về giao tiếp, các cán sự phải đối mặt với những áp lực nhằm tối thiểu hoá những khó khăn như vậy. Sự lạm dụng địa vị phù hợp và những hành động tuân thủ pháp luật khác đều thường xuyên xảy ra. Do đó cũng có những hình thức phê chuẩn, thừa nhận đối lại các nhà hoạt động chuyên môn, đó là người đã lý giải sai hoặc truyền bá thông tin không phù hợp. Nhu cầu của xã hội chính là việc các hoạt động chuyên môn là có khả năng và là nhu cầu hiện tại, thường là được đánh giá qua việc kiểm tra và cấp chứng nhận. Với nọi dung đó, việc vượt qua các kỳ thi đòi hỏi cán sự xã hội hiểu được những thuật ngữ và những quan niệm được sử dụng trong hoạt động chuyên môn này.
Từ điển công tác xã hội được xây dựng nhằm xác định những vấn đề thách thức này. Ý tưởng cho cuốn từ điển này có từ những năm đầu của 1980 khi tôi tham gia vào một tiểu ban viết về các câu hỏi dành cho các cuộc thi về công tác xã hội. Mọi thành viên tham gia đều tranh luận về hoạt động chuyên môn này thường hiểu về những thuật ngữ cụ thể ra sao khi mà nó được sử dụng. Mọi tác giả viết bài thi đều tiếc là công tác xã hội thiếu hàng loạt từ khoá theo ngôn ngữ riêng của công tác xã hội trong việc sử dụng trong việc xem xét những tranh luận này. Và từ đó, tôi quyết định đi vào viết Từ điển công tác xã hội.
Tôi bắt đầu đi vào tập hợp hàng loạt các từ khoá có vẻ là những hình thức từ thường xuyên xuất hiện trong các tạp chí công tác xã hội và giáo trình công tác xã hội trong ba thập kỷ qua. Các bài báo và bài viết này cũng thường được sử dụng trong các trường đào tạo công tác xã hội ở cấp đại học và sau đại học và cả ở các tổ chức xã hội rộng lớn hơn. Tôi cũng bổ sung thêm vào danh mục này các từ trong các bài báo, bài viết, giáo trình chuyên ngành có liên quan đến công tác xã hội, đặc biệt là các ngành tâm thần học, luật, xã hội học, kinh tế học, nhân học và tâm lý học. Thông qua thời gian, tôi cũng đã trình bày danh mục này cho hàng trăm đồng nghiệp trong lĩnh vực đào tạo công tác xã hội và hoạt động trị liệu cũng như cho sinh viên và các thành viên của các hoạt động chuyên môn có liên quan. Với những gợi ý đặt ra, hàng trăm thuật ngữ bổ sung khác cũng được bổ sung vào danh mục này.
Trong việc xác định những thuật ngữ đó, tôi nhận thấy thật cần thiết để xem xét những thuật ngữ này được các học giả khác nhau sử dụng như thế nào. Mọi thuật ngữ được sử dụng thường xuyên, thì tôi cũng nhận thấy có một số những khác biệt trong các hình thức lý giải mà các tác giả khác nhau có đưa ra những thuật ngữ cụ thể. Tôi cũng cố gắng đưa ra một quan niệm mà có ý nghĩa rất gần với quan điểm chính yếu nhất và đối với trào lưu chính của lối tư duy công tác xã hội. Tôi cũng cố gắng đưa ra từng quan niệm gốc đối với công việc này, đó là một chính sách mà tôi cần duy trì trong suốt quá trình biên tập cho ấn phẩm xuất bản nảy. Chẳng có những quan niệm nào được trích dẫn từ các nguồn được xuất bản được biết trước đó.
Ngay khi tôi hoàn thành được việc viết các quan niệm này, chúng đã bị phê phán mạnh, được điều chỉnh bởi chính hàng trăm đồng nghiệp và sinh viên được lấy ý kiến. Tôi bắt đầu đánh giá qua việc đưa ra hai hoặc ba trang giấy về các quan niệm cho sinh viên ở trường Đại học Thiên chúa giáo Mỹ. Sau đó, tôi cũng đưa một danh mục từ cho sinh viên, các giáo dư ở một số trường đào tạo về công tác xã hội ở Washington DC, khu vực thủ đô. Sinh viên và giảng viên ở Đại học Howard, Gaullet và Maryland cũng the trường Thiên Chúa giáo đều là những người tham gia đánh giá đầu tiên. Các quan niệm do đó được hướng đến làm tăng sự chú ý trong hai năm trước khi tôi cảm thấy là sẵn sàng xem xét việc xuất bản cuốn từ điển các thuật ngữ chuyên môn.
Sau khi Hiệp hội Quốc gia những cán sự xã hội (NASW) và Nhà xuất bản của NASW đồng ý xuất bản cuốn sách này, tôi đã nhóm họp và thành lập một nhóm các đồng nghiệp thành ban biên tập, đó là những người được xem là những học giả và những nhà thực hành nổi tiếng trong lĩnh vực chuyên môn. Các thành viên của ban biên tập đã được chọn dựa trên kinh nghiệm chuyên môn ít nhất trong một lĩnh vực về tri thức công tác xã hội hoặc những lĩnh vực có liên quan như y học, luật học, quản trị hoặc kinh tế. Với từng thành viên, tôi có gửi khoảng 50 đến 100 quan niệm được xem là thuộc về lĩnh vực chuyên gia của họ. Tôi yêu cầu các thành viên xem xét lại quan niệm nhằm làm cho nó chính xác, phân loại, và đưa ra những ví dụ phù hợp. Cụ thể là, có tới ba chuyên gia cùng xem xét một quan niệm được đưa ra.
Các chuyên gia cũng không thường xuyên đồng ý với nhau về việc một thuật ngữ được quan niệm ra sao hoặc phần nào của quan niệm đó cần được nhấn mạnh, do đó sự thoả hiệp cần được trình bày. Một số chuyên gia cũng tin rằng có một số thuật ngữ lại lỗi thời và có lẽ cần loại bỏ ra. Mặc dù vậy, tôi có chọn hầu hết các thuật ngữ này làm điểm chung, dĩ nhiên là chưa phù hợp, sử dụng chúng và chỉ ra là tại sao chúng được xem là chưa phù hợp về cách sử dụng bởi các nhà chuyên môn. Điều này cũng phản ảnh được quan điểm của tôi cho rằng mục đích của cuốn từ điển này là nhằm đi vào lý giải ý nghĩa của những thuật ngữ chứ không phải đi vào đánh giá khi nào mọi người sử dụng các thuật ngữ hoặc dự đoán các thuật ngữ đó có thể không tồn tại.
Tiến trình xem xét các thuật ngữ này cũng được thực hiện theo sau 5 lần xuất bản cuốn từ điển Công tác xã hội này. Mọi thuật ngữ và khái niệm mà tôi viết đều được đánh giá, biên tập và đôi khi được bổ sung bởi ít nhất ba chuyên gia và hai biên tập viên. Với từng lần biên tập và cập nhật thông tin của từ điển, tôi cũng đã yêu cầu có thêm những tác giả, chuyên gia mới tham gia ban biên tập. Một số thành viên là mới đối với lần biên tập này, trong khi có một số người khác đã theo công việc này trong 5 lần biên tập vừa qua. Với mỗi lần biên tập mới, mọi thuật ngữ đều được xem xét và cập nhật hoặc điều chỉnh nếu cần thiết. Một số quan niệm lại đựơc bỏ đi trong lần xuất bản mới. Nhưng nhìn chung, cuốn từ điển này ngày càng phát triển về dung lượng từ. Lần xuất bản đầu tiên có khoảng 4000 quan niệm, và tới lần xuất bản lần thứ 5 này, nó có khoảng trên 9000 từ.
Lần xuất bản đầu tiên của cuốn từ điển này là vào năm 1987. Sau đó được tái bản vào các năm 1991, 1995, 1999 và lần xuất bản thứ 5 vào 2003. Các đồng nghiệp trên toàn thế giới cũng bày tỏ sự tán đồng và cho thấy cuốn từ điển này được sử dụng trong hầu hết các trường đào tạo về công tác xã hội, ở các thư viện và các trung tâm thi cấp giấy chứng nhận hành nghề công tác xã hội, và ở các văn phòng của các chuyên gia, các nhà thực hành về công tác xã hội.
Các thuật ngữ được trình bày ở đây thuộc khía cạnh quản trị công tác xã hội, nghiên cứu, phát triển chính sách và lập kế hoạch, tổ chức cộng đồng, phát triển con ngời, sức khoẻ và sức khoẻ tâm thần, công tác xã hội vĩ mô và vi mô, lý thuyết và thực hành trị liệu. Đó là những thuật ngữ có liên quan chặt chẽ đến giá trị và đạo đức của công tác xã hội và lịch sử phát triển của công tác xã hội. Các quan niệm này bao gồm các các hình thức mô tả một số hình thức tổ chức, xu hướng, các cá nhân, triết lý và vấn đề pháp lý mà nó đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển công tác xã hội và phúc lợi xã hội.
Những từ khoá mang tính tiểu sử cũng là những hình thức nhắc nhở, giúp chúng ta nhớ được những tác giả có những đóng góp cực kỳ quan trọng đối với hoạt động chuyên môn và phúc lợi xã hội. Tiêu chí lựa chọn là dựa trên danh mục những tác giả làm trong lĩnh vực chuyên môn này đã qua đời và được xác định là thành viên của hoạt động chuyên môn về công tác xã hội, và có những công trình nghiên cứu đặc biệt về công tác xã hội và phúc lợi xã hội. Phần “các điểm mốc của sự phát triển công tác xã hội và phúc lợi xã hội” có trình bày vấn đề mang tính lịch đại về những điểm phát triển quan trọng ở Hoa Kỳ và trên thế giới nhằm hướng đến những chính sách và hoạt động thực hành phúc lợi và vì sự phát triển của con người.
Những thuật ngữ này được phát triển trong mô hình chuyên môn này cũng như những lĩnh vực khác có liên quan được các cán sự xã hội thừa nhận làm thuật ngữ riêng cho xã hội học, nhân học, y học, luật học, tâm lý học và kinh tế học. Những triệu chứng và những dấu hiệu chẩn đoán đối với những hình thức rối nhiễu tâm thần khác nhau được xác định như thể chúng được các cán sự xã hội, tâm thần học, tâm lý học và những chuyên gia sức khoẻ tâm thần khác hiểu. Mọi thuật ngữ về chẩn đoán và tiêu chí được phát hiện ra ở đây gắn liền với những quan niệm về Sổ tay chẩn đoán và thống kê về rối nhiễu tâm thần, Lần xuất bản thứ tư, Bảng tiêu chuẩn phân loại quốc tế về bệnh tật, lần xuất bản thứ 10 và Cá nhân trong hệ thống môi trường. Rất nhiều thuật ngữ có nguồn gốc từ những định hướng lý luận về tâm động học, hành vi-nhận thức, hiện sinh cũng như thuyết hệ thống. Dĩ nhiên cùng được đưa vào đây là những quan niệm về thực hành công tác xã hội với cá nhân, nhóm, gia đình và cộng đồng.
Cũng như những lần trước, lần xuất bản thứ 5, cuốn Từ điển cũng sử dụng những hình thức trình bày về mang tính chuyên môn của một cuốn từ điển. Những thuật ngữ được sắp xếp theo vần. Nhiều thuật ngữ được tham khảo chéo, và nhiều thuật ngữ có lẽ xuất hiện dưới dạng in nghiêng trong phần diễn giải chính là cách tự nó xác định ý nghĩa cho nó ở một vị trí nào khác trong cuốn từ điển này. Cuốn từ điển này không trợ giúp cho việc trình bày mọi ngôn từ mà công tác xã hội có thể sử dụng hoặc đưa ra những quan niệm mang tính chính thức. Sự phát triển của tri thức mới và sự biến đổi các luận điểm sẽ cần thiết có thêm những hình thức biên tập lại và tiếp tục tái bản. Từ điển công tác xã hội sẽ cung cấp cho cán sự xã hội một danh mục từ viết tắt về các thuật ngữ, quan niệm, các tổ chức, các sự kiện về mặt lịch sử, những giá trị phù hợp với hoạt động chuyên môn. Do đó, cuốn từ điển này được thiết kế nhằm cung cấp một danh mục từ khoá cốt yếu của công tác xã hội chứ không phải hình thức diễn giải các từ, thuật ngữ mang tính chất như từ điển bách khoa. Hy vọng rằng, mọi hình thức quên, không nhất quán và những sai sót sẽ là tối thiểu. Nhưng với một lĩnh vực chuyên môn đầy biến đổi này, với các nhà chuyên môn có tri thức đa dạng về các lĩnh vực khác nhau, thật khó khi cho rẳng chẳng có sự không nhất quán nào là không xảy ra. Với tư cách là tác giả của ấn phẩm này, tôi đảm bảo rẳng trách nhiệm đầy đủ nhất của việc bổ sung hay bỏ ra những thuật ngữ chính là cách các thuật ngữ được quan niệm, xác định.
Nhà xuất bản NASW và tôi có kế hoạch biên tập lại cuốn từ điển này sau một vài năm nữa. Tôi muốn mọi người đều đưa ra những đánh giá, nhận xét về mọi sự biến đổi, bổ sung, bỏ đi hoặc điều chỉnh những thuật ngữ, nếu có xin gửi qua email đến nhà xuất bản. Tôi hứa sẽ xem xét và đánh giá cao những ý kiến của đồng nghiệp và các bạn và sẽ sớm có thông tin phản hồi. Với cách thức đó, cuốn từ điển này sẽ vẫn là văn bản sống, sản phẩm của mọi cán sự xã hội và các chuyên gia. Tôi hy vọng, lần xuất bản này sẽ tiếp tục là công cụ hữu ích đối với các cán sự xã hội trong công việc, nỗ lực làm rõ ràng hơn hoạt động chuyên môn và hiểu hơn về hoạt động chuyên môn.
Robert L.Baker
Tháng 7 năm 2003
Người dịch: Trần Văn Kham
0 Comments